Du lịch

Bảo tồn, phát triển bền vững các giá trị của thắng cảnh đầm Đông Hồ - Hà Tiên

Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang Trương Thanh Hùng đề nghị quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá trăm năm của thắng cảnh đầm Đông Hồ.
Cận cảnh Đông Hồ
Phát biểu khai mạc hội thảo, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lê Văn Thi khẳng định hệ sinh thái núi đá vôi và đất ngập mặn vùng Hà Tiên được đánh giá là hệ sinh thái đặc biệt, trong đó đầm nước mặn Đông Hồ là một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống đầm phá ven biển của Việt Nam. Đầm Đông Hồ đã gắn liền với đời sống lịch sử xã hội của vùng đất Hà Tiên. Giá trị về tài nguyên thiên nhiên của đầm Đông Hồ đã góp phần rất lớn phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của Hà Tiên hơn 300 năm qua.
Theo TS. Lê Đức Tuấn – Giám đốc TT Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), Đông Hồ là một đầm nước mặn nằm ở trung tâm thị xã Hà Tiên, nơi cửa sông Giang Thành đổ ra biển. Chung quanh tiếp giáp với phường Đông Hồ, phường Tô Châu và xã Phú Mỹ thuộc huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Đầm Đông Hồ có diện tích 1.384,36ha, chiếm khoảng 1/2 diện tích 4 phường nội ô và bằng 1/8 diện tích tự nhiên của thị xã Hà Tiên. Hồ có chiều dài theo hướng Bắc - Nam khoảng 4,6 km, chiều rộng theo hướng Đông - Tây khoảng 3,5 km. Đầm Đông Hồ có dạng hình lòng chảo chứa phù sa, có nơi rất dày lên đến 1,3 – 1,5m. Do tác động của chế độ thủy văn tự nhiên từ dòng chảy của sông Giang Thành, kênh Rạch Giá – Hà Tiên và chế độ nhật triều của thủy triều vùng biển Tây tạo nên các khu vực có các luồng lạch và vùng bồi lắng khác nhau. Đông Hồ còn có điểm độc đáo ít đầm nước mặn nào có là nước trong hồ thay đổi theo mùa, mùa khô nước mặn, mùa mưa lại có nước ngọt.

 

Một góc đầm Đông Hồ với núi Tô Châu soi bóng kề bên.
Khu vực Đông Hồ nằm trong vùng có cảnh quan rất đẹp và đa dạng gồm cả núi, đồi, đồng bằng, sông, biển; khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm ấm áp, động thực vật rất phong phú. Lớp cảnh quan đồi núi xung quanh Đông Hồ gồm những núi, đồi có độ cao không lớn (Tô Châu 181m, Núi Lăng 30,4m, Thạch Động 101m), là núi đất đỏ hoặc núi đá vôi. Trong đó có những dạng địa hình thoai thoải, các thung lũng chiếm ưu thế có khả năng trồng rừng, trồng lương thực, hoa quả hình thành các vườn rừng có thể phục vụ khai thác du lịch sinh thái. Lớp cảnh quan đồng bằng thì có cảnh quan nông nghiệp (đồng lúa, đồng màu, trồng cây công nghiệp ngắn ngày), cảnh quan rừng (với độ che phủ không lớn, tập trung thành các cụm nhỏ) cảnh quan bãi bồi ven biển và bãi cát ven biển. Đông Hồ còn có cảnh quan biển với những đảo lớn nhỏ trong khu vực xã Tiên Hải (cũng thuộc Hà Tiên). Những ngày trời trong có thể nhìn thấy cả đảo Phú Quốc, quần đảo Hải Tặc. Toàn bộ cảnh quan biển của đầm Đông Hồ đẹp nhất vào lúc hoàng hôn và những đêm trăng sáng.
Tìm hướng bảo tồn vốn quý của tự nhiên
Ông Mai Văn Huỳnh – Bí thư Thị uỷ, Chủ tịch UBND thị xã Hà Tiên cho biết từ lâu người dân địa phương và các nơi khác đã đến làm ăn, sinh sống quanh khu vực đầm Đông Hồ, tập trung ở phía Tây và Nam thuộc hai phường Đông Hồ và Tô Châu. Tại đây hiện có 704 hộ dân với trên 3.000 nhân khẩu. Khu dân cư trên dải cồn nổi giữa hồ thuộc khu phố 5, phường Đông Hồ (trước kia là ấp Cừ Đức) có 365 hộ với 1.615 nhân khẩu. Đời sống của cư dân ven và giữa hồ còn nhiều khó khăn, nhà cửa tạm bộ, 90% số hộ thiếu nước sạch sinh hoạt, số hộ nghèo khá cao 81 hộ, 61 hộ cận nghèo. Nhiều năm nay, người dân tự ý lấn chiếm lòng hồ, trồng cây, giăng đáy (cắm cọc kéo lưới ngang lòng hồ), đặt đăng, nò, dến… khai thác thuỷ sản gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý.
Cũng theo ông Huỳnh, thị xã Hà Tiên đã có 3 định hướng lớn liên quan đến quản lý và khai thác đầm Đông Hồ là phát triển du lịch – dịch vụ; trồng rừng sinh thái và nuôi trồng hải sản. Đến thời điểm này, Hà Tiên đã kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng công viên văn hoá – du lịch tại cồn khoảng 27ha. Bên cạnh đó, thị xã cũng đã tăng cường quản lý việc khai thác thuỷ sản lòng hồ quá mức, đồng thời ngăn chặn người dân tự ý bao chiếm lòng hồ nuôi trồng thuỷ sản. Trong những năm qua, thị xã Hà Tiên đã không cho phép triển khai các dự án nuôi trồng qui mô công nghiệp trên đầm Đông Hồ vì nhận thấy ảnh hưởng lớn đến cảnh quan và môi trường.
Liên quan đến vấn đề khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên hồ, ông Bùi Ngọc Sương – Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang) nêu một kinh nghiệm bảo tồn thành công từ vịnh Cá Đuối (tỉnh Chantaburi, Thái Lan). “Tại đây (vịnh Cá Đuối) người ta cấm hoàn toàn việc khai thác thuỷ sản vì xác định vịnh chính là nơi sinh sản của nhiều loài. Cấm khai thác tại nơi sinh sản cũng có nghĩa là sẽ mang lại nguồn khai thác dồi dào cho khu vực xung quanh thông với vịnh. Tôi cho rằng đầm Đông Hồ cũng nên cấm hoàn toàn việc đánh bắt dưới bất kỳ hình thức nào để tạo nguồn lợi cho cả vùng biển Hà Tiên – Phú Quốc. Về qui hoạch, phải giữ càng nguyên hiện trạng càng tốt. Về dân sinh, song song với việc cấm khai thác, chính quyền địa phương nên tổ chức hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ven hồ để vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa huy động được sự tham gia của cư dân trong việc bảo tồn môi trường sinh thái” – ông Bùi Ngọc Sương đề nghị.
Đề cập vấn đề làm du lịch sinh thái, TS. Dương Văn Ni (giảng viên Đại học Cần Thơ) lưu ý cần nhận thức đúng và đầy đủ về loại hình du lịch sinh thái, trước khi quyết định có đưa vào khai thác tại Đông Hồ hay không. Bởi du lịch sinh thái là loại hình du lịch kém hiệu quả kinh tế, chủ yếu hướng tới mục tiêu giáo dục cho cộng đồng về ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Theo Tiến sĩ Ni, tại nhiều nước trong khu vực và thế giới, các chính phủ đều phải đầu tư nguồn lực to lớn và lâu dài để phát triển du lịch sinh thái tại những vùng cảnh quan, mà thực ra chính là đầu tư để bảo tồn thiên nhiên.
Ông Trương Thanh Hùng – Chủ tịch Hội Văn học – nghệ thuật Kiên Giang, là người nhiều năm gắn bó, nghiên cứu sâu sắc về văn hoá đất Hà Tiên – đề nghị chỉ nên chú trọng khai thác loại hình du lịch văn hoá tại đầm Đông Hồ với mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá độc đáo của thắng cảnh này. “Đầm Đông Hồ từ lâu đã chiếm một vị trí trung tâm trong tổng thể cảnh quan thơ mộng của Hà Tiên, làm nên linh hồn cho mảnh đất này. Nói tới đầm Đông Hồ là nói đến những đêm trăng đầy thi vị, tao nhân mặc khách thả hồn thơ theo sóng nước mênh mang. Tôi cho rằng nên khôi phục, và nếu cần, có thể triển khai xây dựng một bảo tàng Chiêu Anh Các tại khu vực cồn nổi giữa lòng hồ để khai thác loại hình du lịch, dịch vụ văn hoá, chú trọng đối tượng du khách là văn nghệ sĩ đến đây sáng tác âm nhạc, thơ, văn, hội hoạ…” – ông Trương Thanh Hùng nói.
Hội thảo đã khép lại với nhiều ý kiến tham luận được đánh giá là những đóng góp quý báu và tâm huyết đối với việc bảo tồn và định hướng phát triển bền vững cho đầm Đông Hồ. Những ý kiến này sẽ được chính quyền thị xã Hà Tiên và tỉnh Kiên Giang ghi nhận một cách trân trọng, xem như những cơ sở khoa học phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách bảo tồn, phát triển thắng cảnh Đông Hồ nói riêng, tổng thể thị xã biên giới Hà Tiên nói chung. Cũng là để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Hà Tiên trở thành thành phố du lịch văn hoá miền tận cùng biên giới Tây Nam của Tổ quốc trong một tương lai rất gần. Để Hà Tiên trong lòng du khách gần xa sẽ mãi là “xứ thơ” với những đêm trăng soi bóng lung linh trên sóng nước Đông Hồ; để “Đông Hồ ấn nguyệt” sẽ mãi trường tồn với thời gian. Như trong 4 câu trích từ bài vọng cổ của ông Trương Thanh Hùng vừa sáng tác về đất Hà Tiên:
“Thong thả Đông Hồ trong đêm ngọc Nguyên tiêu
Trăng cũng vì ta mà cúi mình tâm sự
Tiếng người xưa còn vọng về theo lời thơ ý nhạc
Ngắm trăng vàng bên hiên Chiêu Anh Các…”

theo website Kiên Giang   |   Có web counter lượt xem

Tìm kiếm